Di tích lịch sử Lương Tài
Phường Lương Tài, Tỉnh Bắc Ninh có 28 di tích lịch sử - văn hóa, trong đó 2 di tích cấp quốc gia và 26 di tích cấp tỉnh.
🏛️ Di tích Cấp quốc gia(2)
Cấp quốc giaĐình Tĩnh Xá
Đình Tĩnh Xá, thôn Tĩnh Xá, xã Phú Hòa, huyện Lương Tài, nay là xã Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh, vốn được khởi dựng từ thời lâu đời, đến thời Lê Trung Hưng (thế kỷ XVII) được tu bổ, tôn tạo lớn. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, thực hiện chủ trương “tiêu thổ kháng chiến”, nhân dân đã hạ mái, phá tường bao của đình. Đình làng Tĩnh Xá được xây dựng vào thời Nguyễn. Đình quay theo hướng Nam, gồm các công trình kiến trúc: Đại đình, Hậu cung, Tam môn. Toà Đại đình gồm 3 gian 2 chái, hệ chịu lực được làm bằng gỗ lim chắc khỏe. Tiền tế 5 gian làm theo kiểu “bình đầu bít đốc”. Hậu cung gồm 3 gian, Hậu cung nối liền với gian giữa và vuông góc với Đại đình, mái lợp ngói mũi hài. Đình Tĩnh Xá thờ Linh Lang đại vương có công giúp vua Lý dẹp giặc ở Sơn Tây, Nam Định, Đoan Hùng. Trong di tích còn lưu giữ một số tài liệu hiện vật có giá trị như: bản thần tích chữ Hán Nguyễn Bính soạn năm 1572, Nguyễn Hiền sao lại năm 1740, 18 đạo sắc phong do các triều Vua ban tặng vào hai thời Lê, Nguyễn; ngai thời, long đình, bộ chấp kích, bát biểu, kiệu, mâm bồng, đài gỗ… mang đặc trưng nghệ thuật thời Nguyễn. Hàng năm lễ hội tổ chức tại đình vào ngày 10 tháng 2 âm lịch. Đình Tĩnh Xá được Bộ Văn hóa – Thông tin xếp hạng Di tích lịch sử và nghệ thuật tại Quyết định số 15/2003/QĐ-BVHTT, ngày 14/4/2003.
Cấp quốc giaLăng Họ Đặng
Từ chỉ (Lăng) họ Đặng nằm ở phía Tây Nam của thôn Tỳ Điện, xã Phú Hòa, huyện Lương Tài, nay là Xã Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh. Căn cứ vào niên đại dựng một số bia trong di tích và hoa văn trang trí trên các hiện vật cho biết di tích được xây dựng vào thế kỷ XVII – XVIII. Từ khi được hình thành cho đến nay, khu Lăng vẫn được giữ nguyên vẹn, không qua một lần tu sửa, chuyển dịch nào. Khu Lăng là di tích có kết cấu lộ thiên, chia làm 2 phần. Phần 1 là khu có tường xây xung quanh (phần mộ nằm trong khu vực này); Phần 2 là khu vực ngoài tường vây có một số hiện vật như bia đá niên đại thời Lê, bàn thờ đá… Khu nhà thờ có kết cấu theo dáng vẻ truyền thống có bình đồ kiến trúc chữ Đinh gồm Tiền đường 3 gian và 1 gian Hậu đường. Bộ khung chịu lực bằng gỗ lim chắc khỏe với 4 hàng cột dọc và 2 hàng cột ngang tạo thành 3 bộ vì, các bộ vì kết cấu theo kiểu vì kèo. Hệ thống cửa bức bàn đóng kín 3 gian. Lăng họ Đặng được xây dựng để thờ các vị tổ của dòng họ, như cụ Trung Túc; Quý Thị; Trung Roãn hiệu Đào Tân… Các cụ tổ này đều làm quan trong triều đình và giàu có, họ mua ruộng đất cho dân làng, xây dựng khu lăng cho dân làng cúng lễ khi các cụ qua đời. Tại khu vực Lăng hiện còn bảo lưu gìn giữ được nhiều cổ vật thời Lê như: hệ thống bia đá, sấu đá, sập đá, hoành phi, câu đối, bộ bát biểu… Các cổ vật này được coi là những tác phẩm điêu khắc có giá trị về mặt kiến trúc nghệ thuật. Khu lăng được kết cấu đăng đối, hài hòa với thiên nhiên tạo nên một khuôn viên sạch đẹp, thoáng đãng cho di tích. Đây là nơi giáo dục truyền thống, tưởng nhớ tới những người làm quan, có công lao to lớn với quê hương đất nước. Di tích đã được Nhà nước xếp hạng di tích Quốc gia tại Quyết định số 28-VH/QĐ ngày 18/01/1998.
📜 Di tích Cấp tỉnh(26)
Cấp tỉnhĐình Hữu Ái
Đình Hữu Ái là công trình văn hóa tín ngưỡng của nhân dân địa phương vốn được xây dựng từ lâu đời để tôn thờ thành hoàng làng là tướng quân Phạm Thiệu (Thiệu Công). Đình làng Hữu Ái vốn xưa kia nằm ở phía Tây của làng trên một khu đất cao, sau do yếu tố tâm linh nên nhân dân địa phương đã chuyển đình về phía Đông của làng. Đến thế kỷ 19, đình Hữu Ái lại được trùng tu sửa chữa. Vì đình nằm trên khu đất trũng thấp thường xuyên bị ngập lụt vào mùa mưa, do vậy đến đầu thế kỉ 20 nhân dân địa phương đã góp công của chuyển đình về dựng tại vị trí ngày nay. Cuối năm 1952, thực hiện lệnh tiêu thổ kháng chiến, nhân dân địa phương đã dở bỏ 5 gian Đại đình chỉ để lại 3 gian Hậu cung, kiệu Long đình, kiệu bát cống và nhiều đồ thờ tự. Năm 1960 Hợp tác xã nông nghiệp đã xây bít hậu cung, mở cửa ra hướng khác và biến Hậu cung thành nhà kho Hợp tác xã, nhiều đồ thờ tự đã thất lạc chỉ còn lại kiệu bát cống. Năm 1972, trên nền Đại đình cũ, địa phương đã cho xây dựng 5 gian nhà Văn hóa và phá bỏ 3 gian nhà kho (Hậu cung của đình cũ). Đến năm 1989, nhân dân địa phương đã góp công góp của xây dựng được 1 gian Hậu cung nằm phía sau Nhà văn hóa trên đất Hậu cung cũ để tiếp tục thờ thánh. Sau đó, địa phương đã đồng ý cho thông Hậu cung với 5 gian Nhà văn hóa phía trước và biến nhà văn hóa thành nơi hành lễ. Sau nhiều lần tu sửa đến năm 2013 nhân dân địa phương đã dỡ bỏ và góp công góp của xây dựng lại ngôi đình khang trang tố hảo như hiện nay. Đình được xếp hạng cấp tỉnh, quyết định số 1008/QĐ-UBND ngày 24/9/2014
Cấp tỉnhĐình Lạng Khê
Căn cứ vào kết quả khảo sát tại địa phương, đình Lạng Khê vốn được khởi dựng vào thời Nguyễn (thế kỷ XIX), trên khu đất ở phía Đông Bắc của làng. Theo các cụ cao niên trong làng cho biết thì trước kia Lạng Khê có 2 đình: đình Trong và đình Ngoài. Đình Ngoài nằm gần khu vực chùa nhưng trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp năm 1948, thực hiện chủ trương tiêu thổ kháng chiến đình đã bị đốt phá hoàn toàn. Đình Trong (tức đình Lạng Khê hiện nay) trở thành cơ sở cách mạng và trạm cứu thương của bộ đội. Sau khi hòa bình lập lại, đình trở thành nhà văn hóa bình dân học vụ, hậu cung đình là kho chứa thóc của hợp tác xã. Từ năm 1971, đình Lạng Khê lại là nơi sơ tán của trường Đảng huyện Gia Lương cho đến năm 1979. Đình xưa có quy mô to lớn gồm 5 gian Đại đình, 2 gian Hậu cung, kiến trúc hình chữ Đinh, bộ khung gỗ lim chắc khỏe, nghệ thuật trang trí chạm khắc tinh xảo. Ở giữa là lòng giếng, hai bên lắp hệ thống sàn gỗ. Hiện đình còn bảo lưu được một số chân tảng và một hàng bậc tam cấp bằng đá xanh là dấu tích gốc của ngôi đình trong lịch sử. Trải thăng trầm lịch sử, ngôi đình đã bị hủy hoại và xuống cấp nặng nề. Năm 2008, với truyền thống hướng về cội nguồn, nhân dân địa phương đã góp công, góp của xây dựng lại ngôi đình với dáng vẻ truyền thống trên nền đất xưa cũ để tôn thờ thành hoàng. Đình đã xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh, quyết định số 1160/QĐ-UBND ngày 30/8/2012
Cấp tỉnhĐình Ngọc Cục
Theo kết quả khảo sát tại di tích cho biết, đình Ngọc Cục là công trình được khởi dựng vào thời Lê. Đến thời Nguyễn, đình có quy mô khá lớn ở khu đất Cổng Đình nằm ở phía Tây của làng. Trải thăng trầm lịch sử đình đã qua nhiều lần tu bổ, sửa chữa. Năm 1944 đình được tu dựng lại gồm 3 gian 2 chái, 4 mái đao cong, Hậu cung 3 gian tất cả được làm bằng gỗ lim. Trong khuôn viên đình có cả chùa “Hồ Ngọc tự”, năm 1960 đình bị tháo dỡ phần Đại Đình còn lại Hậu cung. Đến năm 1992, nhân dân địa phương tái lập lại 3 gian Đại Đình. Đến năm 2010, được sự quan tâm của Đảng, Chính quyền và nhân dân địa phương toàn bộ khu đình đã được phục dựng lại. Đình Ngọc Cục đã được xếp hạng di tích cấp tỉnh, Quyết định số 934/QĐ-UBND, ngày 04/8/2011.
Cấp tỉnhĐình Tam Sơn
Theo các tài liệu cổ và kết quả khảo sát ở địa phương cho biết, đình Tam Sơn được khởi dựng từ thời Lê, có quy mô kiến trúc kiểu chữ Đinh, gồm 7 gian Đại đình và hai gian Hậu cung. Do thời gian và chiến tranh, đình đã được tu bổ nhiều lần, đến năm 1978 đình đã bị cắt mất hai gian của Đại đình, Hậu cung trở thành nhà kho của hợp tác xã. Trải qua nhiều năm, đến năm 2013, nhân dân mới góp công của tiến hành tu bổ tòa Đại đình, làm thêm 2 chái để đình có quy mô, dáng vẻ như hiện nay. Đình Tam Sơn là di tích đã được xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh theo quyết định số 225/QĐ-CT, ngày 10/03/2003.
Cấp tỉnhĐình Mỹ Duệ
Theo lời các cụ cao niên trong làng và hệ thống thư tịch cổ ở nơi đây cho biết đình Mỹ Duệ có từ lâu đời. Căn cứ vào nội dung văn bia “ Hữu Thần tả Phật bi ký” dựng vào năm Chính Hòa 20 (1699) cho biết vào thời kỳ này đình được tu bổ tôn tạo lớn, có nhiều người cung tiến tiền của để tu bổ đình trong đó tiêu biểu có cung tần Đặng Thị Nhuận, người thôn Trịnh xã Tỳ Bà, mẹ là người bản xã đã cung tiến 500 quan tiền và 4 mẫu ruộng để tu bổ đình - chùa nên đã được nhân dân bầu làm hậu Thần, hậu Phật. Như vậy cũng có thể xác định ngôi đình có niên đại khởi dựng từ khoảng cuối thể kỷ 16, đầu thế kỷ 17. Đến thời Nguyễn, đình được trùng tu tôn tạo với quy mô khá lớn. Các cụ cao niên trong làng còn nhớ, khi ấy đình gồm các tòa: Tiền tế 5 gian, hai bên có sàn gỗ; Đại đình 3 gian 2 chái, bốn mái đao cong, nối phía sau là phần hậu cung tạo thành hình chữ đinh (J); phía trước Tiền tế có hai Dải vũ, mỗi tòa 3 gian. Nhưng rất tiếc trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, đình Mỹ Duệ đã được tiêu thổ để đáp ứng nhu cầu cách mạng. Hòa bình lập lại do truyền thống uống nýớc nhớ nguồn, nhân dân ðịa phýõng ðã góp công góp của phục dựng lại đình trên nền xưa đất cũ với sự trang nghiêm như ngày nay. Đình làng Mỹ Duệ: xếp hạng di tích cấp tỉnh, Quyết định số 1626/QĐ-UBND, ngày 21/12/2012.
Cấp tỉnhChùa Mỹ Duệ
Chùa làng Mỹ Duệ có tên chữ Sùng Khánh tự. Căn cứ vào các văn bia cổ tại đây cho biết chùa có từ lâu đời khoảng thế kỷ XVI XVII. Đặc biệt trong khi đào đất tại khu vực chùa, nhân dân địa phương đã phát hiện được một bát hương sành thời Lê và đầu con chim phượng bằng đất nung khá lớn có niên đại vào khoảng thời Trần. Đầu phượng là vật thường dùng để trang trí trên kiến trúc của các ngôi chùa lớn, qua đó chứng tỏ chùa Mỹ Duệ xưa cũng là một trong những ngôi chùa to đẹp. Đến thời Nguyễn, năm Tự Đức 4 (1861), chùa Mỹ Duệ lại được trùng tu tôn tạo. Sau lần tu bổ chùa có kết cấu kiểu chuôi vồ gồm 5 gian Tiền đường, 3 gian Thượng điện, hệ thống chuông đồng, tượng phật rất uy nghi lộng lẫy. Nhưng rất tiếc trải qua kháng chiến chống Pháp phục vụ cho hiệm vụ tiêu thổ kháng chiến thì di tích chùa đã bị tàn phá. Năm Kỷ Mão (1999), chùa Mỹ Duệ được phục dựng với 3 gian 2 chái, bộ khung gỗ lim, mái lợp ngói mũi; hệ thống tượng phật và các đồ thợ tự cũng được bổ sung làm cho ngôi chùa thêm khang trang như ngày nay. Đã xếp hạng di tích cấp tỉnh, Quyết định số 1626/QĐ-UBND, ngày 21/12/2012.
Cấp tỉnhĐình Bà Khê
Theo nhân dân địa phương, đình Bà Khê được khởi dựng từ thế kỷ XVII, đến năm 1838 được nhân dân tu bổ lớn. Kiến trúc đình theo kiểu “bình đầu bít đốc” gồm 5 gian Đại đình, 3 gian hậu cung tạo thành mặt bằng hình chữ đinh (J). Bộ khung chịu lực bằng gỗ lim, chạm khắc tinh xảo trên cốn, đầu dư, bảy hiên. Gian giữa, phía trên là màn giếng, phía dưới là lòng giếng, các gian còn lại lát sàn gỗ. Năm 1950, thực hiện chủ trương “tiêu thổ kháng chiến”, đình đã bị hạ giải hoàn toàn. Năm 1959 -1960, nhân dân góp công, góp của phục dựng tòa kiến trúc 1 gian 2 chái để thờ tự. Năm 1997, đình Bà Khê được nhân dân tu bổ, tôn tạo như hiện nay. Đã xếp hạng cấp tỉnh, Quyết định số 143/QĐ-CT ngày 29/01/2003.
Cấp tỉnhChùa Bà Khê
Các cụ cao niên trong làng cho biết, chùa Bà Khê được khởi dựng từ lâu đời và tu bổ lớn trong thời Nguyễn. Năm 1950, thực hiện chủ trương “tiêu thổ kháng chiến”, chùa đã bị hạ giải hoàn toàn. Giai đoạn 1960 – 1970, phục dựng lại ngôi chùa với quy mô nhỏ, vì bằng nguyên vật liệu bê tông. Đến năm 2009, chùa được thu bổ tôn tạo như hiện nay.
Cấp tỉnhÐình Phương Thanh
Theo lời kể của các cụ cao niên trong làng cho biết: đình làng Phương Thanh vốn được khởi dựng từ lâu đời quy mô lớn đình có cấu trúc hình chữ Đinh (J) với Đại đình 3 gian 2 chái, Hậu cung 3 gian, kiến trúc kiểu 4 mái đao cong. Bộ khung chịu lực bằng gỗ lim chắc khoẻ, kết cấu vì kèo kiểu kẻ chuyền trụ giá chiêng, trên các con chồng, đầu dư, đầu bẩy chạm khắc đẹp, sàn đình lát gỗ. Thời kỳ kháng chiến chống Pháp, đình làng Phương Thanh là một trong những địa điểm hoạt động cách mạng của địa phương. Năm 1949 -1950 thực hiện chủ trương tiêu thổ kháng chiến, đình làng Phương Thanh đã bị tháo dỡ hoàn toàn. Năm 2005 được sự quan tâm của đảng, chính quyền địa phương, nhân dân địa phương đã khôi phục lại ngôi đình trên nền xưa đất cũ. Đình đã được nhà nước xếp hạng di tích lịch sử văn hóa số 52/ QĐ-UBND, 31/10/2006.
Cấp tỉnhĐình Văn Trong
Đình Văn Trong xưa vốn là đình chung của 2 thôn Văn Xá trong và Văn Xá ngoài, nằm trên khu đất cao ở phía Đông của làng. Ngôi đình có hướng Tây - Nam, phía trước là chùa, ba phía còn lại giáp cánh đồng. Tương truyền, ngôi đình xưa dựng ở khu Cây đa và là đình chung của Văn Xá trang. Thời Lê, Văn Xá trang được tách thành 2 xã Văn Xá và Phú Hòa, từ đó đình làng cũng được tách riêng nhưng vẫn thờ chung thành hoàng. Năm 1950, thực hiện chủ trương tiêu thổ kháng chiến, đình đã bị phá hủy hoàn toàn. Năm 1997 nhân dân địa phương đã góp công, góp của xây dựng lại ngôi đình như hiện nay. Đã được xếp hạng di tích cấp tỉnh, Quyết định số 161/QĐ-CT ngày 8/02/2002.
Cấp tỉnhĐình Tỳ Điện
Qua khảo sát, nghiên cứu, căn cứ vào tư liệu hiện còn tại di tích và truyền kể của nhân dân địa phương cho biết: đình Tỳ Điện được khởi dựng từ thế kỷ XVII. Năm 1949 đình bị hạ giải lấy vật liệu cho nhân dân và lực lượng cách mạng trú ẩn. Năm 1995, nhân dân địa phương cùng nhau góp công của phục dựng lại đình trên nền đất cũ. Đã được nhà nước xếp hạng cấp tỉnh, Quyết định số 309/QĐ-CT ngày 08/3/2005.
Cấp tỉnhChùa Tỳ Điện
Chùa Tỳ Điện có tên chữ là "Sùng Quang Tự", vốn được khởi dựng từ thời Nguyễn, sau kháng chiến chống Pháp chùa bị phá hủy. Năm 1997 nhân dân địa phương cùng nhau góp công của xây dựng lại chùa trên nền chùa cũ. Chùa nằm ở trung tâm làng trên một không gian rộng với tổng diện tích là 4.460,0 m2 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng, chùa quay theo hướng Nam, phía Đông giáp khu dân cư và ao làng, phía Nam giáp đình làng, các phía còn lại giáp khu dân cư tạo nên quang cảnh trang nghiêm tại di tích.
Cấp tỉnhĐền Ngọc Xá
Căn cứ vào bản thần tích, các đạo sắc phong, các hiện vật đá và truyền kể của các bô lão trong làng cho biết: Đền Ngọc Xá được khởi dựng từ thời Lê. Thời kỳ kháng chiến chống Pháp, nơi đây là vành đai trắng của địch nên nhiều hạng mục công trình của đền bị phá hủy. Năm 1992, nhân dân địa phương cùng nhau góp công của xây dựng lại đền, năm 2002 xây dựng với quy mô lớn như hiện nay. Di tích đã được nhà nước xếp hạng cấp tỉnh, Quyết định số 08/UB, ngày 27/01/1995.
Cấp tỉnhĐình Phú Trên
Đình làng Phú Trên vốn là đình chung của 2 làng Phú Trên và Phú Dưới. Theo các cụ cao niên trong làng, đình xưa được xây dựng từ lâu đời thời Nguyễn có quy mô lớn (5 gian Tiền tế, 5 gian Đại đình, 3 gian Hậu cung, hai bên là 2 dải vũ 5 gian ), tương truyền nằm gối lên con rùa. Phía trước gối lên đầu rùa, Hậu cung gối lên mu rùa, trước cửa nhìn vào đầu con Phượng, phía tây là ngựa, phía bắc là voi, phía Đông Bắc là con nhạn, con mộc, hình nhân bái tướng. Năm 1949, thực hiện tiêu thổ kháng chiến, đình bị phá hủy. Sau khi hòa bình lập lại, nhân dân địa phương đã góp công góp của phục dựng lại đình trên nền xưa đất cũ theo kết cấu kiến trúc cổ truyền. Năm 2002 xây dựng đình ra vị trí hiện nay. Năm 2019 trùng tu lại toàn bộ đình. Di tích đã được nhà nước xếp hạng di tích cấp tỉnh, Quyết định số 406/QĐ-CT ngày 18/4/2003).
Cấp tỉnhNhà thờ họ Nguyễn
Họ Nguyễn ở thôn Phú Trên là một trong 14 dòng họ trong thôn có về dày lịch sử. Nhà thờ họ Nguyễn nằm ở vị trí giữa làng, là công trình kiến trúc được dòng họ xây dựng vào năm Ất Dậu (1825) để thờ cúng tổ tiên và các vị đỗ đạt của gia tộc. Lúc khởi dựng, nhà thờ có quy mô khá lớn và đẹp, gồm 2 nếp nhà Tiền đường và Hậu đường, kiến trúc tổng thể theo kiểu chữ Nhị, 3 gian Tiền đường phía trước có hệ thống cột đá, 3 gian Hậu đường là hệ thống cột lim. Trải qua thời gian, nhà thờ được tu bổ nhiều lần. Năm 1949 – 1950, thực hiện lệnh tiêu thổ kháng chiến, công trình đã bị dỡ bỏ. Sau khi dỡ bỏ, gia tộc vẫn giữ lại 1 gian xây gạch kiểu cuốn vòm. Năm 1989, gia tộc dựng lại 3 gian Tiền đường có kiến trúc đơn giản. Năm 2001, toàn thể gia tộc đã góp công góp của xây dựng lại nhà thờ của dòng họ như hiện nay. Di tích được xếp hạng cấp tỉnh, quyết định số 53 QĐ- UBND ngày 18/01/2011.
Cấp tỉnhĐình Phú Văn Dưới
Làng Phú Dưới vốn có chung lịch sử với làng Phú Trên, xưa kia là xã Phú Văn thuộc tổng Tỳ Bà. Do vậy hai làng vốn có chung một ngôi đình, hiện nay ngôi đình đó nằm trên địa bàn của thôn Phú Văn Trên. Theo các cụ cao niên trong làng cho biết, đình làng Phú Văn vốn được khởi dựng ở phía Tây Nam của làng (làng Phú Dưới ngày nay). Sau đình lại được chuyển về đất Đường Thánh nằm ở phía Bắc của làng (làng Phú Dưới ngày nay). Sau đình được chuyển về đất Con Rùa (thuộc thôn Phú Văn Trên). Năm 2015 toàn thể nhân dân thôn Phú Dưới đã nhất tâm hưng công xây dựng ngôi đình làng.
Cấp tỉnhChùa Phú Văn Dưới
Chùa Hoa Vân vốn được khởi dựng từ lâu đời ở phía Bắc của làng (làng Phú Dưới ngày nay). Năm 1997 nhân dân địa phương đã chuyển chùa làng sang khu đất ở cánh đồng Vực (vốn là đất của làng khi mới tách ra từ làng Phú Văn). Năm 2014 nhân dân mới chuyển chùa về dựng lại ở vị trí ngày nay.
Cấp tỉnhĐình Hương Chi
Theo các cụ cao niên trong làng cho biết Đình Hương Chi vốn được khởi dựng từ lâu đời với quy mô lớn: Đại đình 5 gian, Hậu cung 3 gian, bộ khung bằng gỗ lim chắc khoẻ, chạm khắc đẹp, trong đình có đầy đủ đồ thờ tự. Nhưng trong thời gian kháng chiến chống pháp thực hiện tiêu thổ kháng chiến, năm 1948 ngôi đình đã bị phá huỷ hoàn toàn. Hoà bình lập lại được sự quan tâm của đảng và nhà nước, nhân dân Hương Chi đã nhất tâm hưng công xây dựng lại ngôi đình trên nền xưa đất cũ.
Cấp tỉnhĐình Ngọc Thượng
Đình Ngọc Thượng được xây dựng vào thời Lê đến thời Nguyễn đình được tu sửa lại rất bề thế và khang trang. Trải qua thời gian và chiến tranh khu di tích bị dỡ bỏ do tiêu thổ kháng chiến năm 1948. Hiện nay đình được xây dựng lại vẫn nằm trong dải đất cũ của đình và sử dụng chất liệu bê tông cốt thép theo kiểu thức truyền thống. Di tích đã xếp hạng số 1408/QĐ-UBND ngày 31/10/2006.
Cấp tỉnhĐền thờ Tô Hiến Thành
Theo các cụ cao niên trong thôn cho biết, đền thờ Tô Hiến Thành được khởi dựng từ lâu đời, trải qua thăng trầm lịch sử đền đã bị phá hủy hoàn toàn trong kháng chiến chống thực dân Pháp. Năm 1999 nhân dân địa phương xây dựng 3 gian Hậu cung (vẫn gọi là đền) trên đất của đình xưa để làm nơi thờ phụng. Năm 2005, tu bổ tôn tạo tòa Tiền tế. Năm 2017, di tích được nhà nước hỗ trợ 300 triệu tu bổ toàn Tiền tế. Đền được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh, quyết định số 166/CT-QĐ/UBND ngày 24.02.1998
Cấp tỉnhChùa Bùi (Cảm Ân tự)
Chùa thôn Bùi được khởi dựng từ lâu đời ở xóm Chùa. Năm 1960 bị phá hủy. Sau đó đã cùng nhau xây dựng một gian thượng điện trên nền đất của nghè xưa để thờ Phật. Đến năm 2001 nhân dân địa phương đã tu sửa thượng điện và xây dựng thêm tòa Tiền đường to đẹp như hiện nay. Đến năm 2003 bằng nguồn công đức của nhân dân và khách thập phương, chùa thôn Bùi được xây dựng thêm nhà Tổ, nhà khách, lầu quan âm và hệ thống sân, vườn, tường bao bảo vệ Chùa được xếp hạng di tích cấp tỉnh, quyết định số 327/QĐ-UBND ngày 30/03/2018.
Cấp tỉnhĐình Giàng
Đình thôn Giàng được khởi dựng từ lâu đời, tại trung tâm của thôn. Trước đây ngôi đình vốn là công trình to đẹp và đồ sộ, nơi tôn thờ vị thành hoàng là danh nhân thời Lý - Tô Hiến Thành đại vương. Trải qua thời gian và chiến tranh, ngôi đình đã bị phá hủy. Hòa bình lập lại nhân dân địa phương đã khôi phục lại ngôi đình như hiện nay. Năm 2018, nhà nước hỗ trợ kinh phí 200 triệu để tu bổ tôn tạo Hậu cung của đình. Đình được xếp hạng cấp tỉnh, quyết định số 1489/QĐ-UBND ngày 05/10/2009
Cấp tỉnhĐình Phượng Trì
Theo các tài liệu lịch sử và các cụ cao niên cho biết đình Phượng Trì được khởi dựng từ thời Lê trên khu đất đẹp ở rìa làng, quay theo hướng Nam. Trải thăng trầm lịch sử thiên nhiên và chiến tranh đình đã phải tu bổ tôn tạo nhiều lần. Gần đây nhất vào năm 1995 đình Phượng Trì được nhân dân địa phương trùng tu tôn tạo bằng chất liệu gỗ, theo kiến trúc truyền thống và tồn tại đến ngày nay. Năm 2018, được sự hỗ trợ của Nhà nước 200 triệu, nhân dân thực hiện tu bổ tôn tạo đình. Đình được xếp hạng cấp tỉnh, quyết định số1598/CT, ngày 30.11.1996
Cấp tỉnhĐình Đông Hương
Theo các cụ cao niên trong thôn cho biết, đình Đông Hương được khởi dựng từ thời Lê, ở giữa làng, đến thời Nguyễn đình có quy mô to đẹp, được làm bằng gỗ lim gồm 5 gian Đại đình, 3 gian Hậu cung, hai bên có nhà tả vu, hữu vu, nhưng do địa thế và diện tích chật hẹp nên nhân dân địa phương đã di chuyển đình về vị trí hiện nay. Cũng như bao làng xã khác trong thị trấn Thứa, năm 1950 ngôi đình cổ xưa của nhân dân Đông Hương đã bị phá dỡ theo lệnh tiêu thổ kháng chiến, chỉ còn lại 1 ngôi miếu nhỏ để thờ Thành hoàng làng (đến nay vẫn còn ở vị trí gần với cổng giáp ao đình). Năm 1976 nhân dân địa phương đã tu sửa ngôi miếu và xây dựng ngôi đình gồm 3 gian. Năm 1993 nhân dân lại cùng nhau xây dựng lại đình to đẹp như ngày nay trên nền đất của đình cũ. Năm 2016, Nhà nước hỗ trợ kinh phí 200 triệu thực hiện tu bổ tòa Tiền tế của đình. Đình xếp hạng di tích cấp tỉnh theo quyết định số 1598/CT, ngày 30/11/1996
Cấp tỉnhĐình Đạo Sử
Theo các tài liệu còn lưu giữ tại địa phương cho biết đình làng Đạo Sử được khởi dựng từ thời Lê, trải qua thời gian thiên nhiên và chiến tranh tàn phá ngôi đình đã được trùng tu tôn tạo nhiều lần. Năm 1993 nhân dân thôn Đạo Sử đã tiến hành trùng tu tôn tạo lớn ngôi đình làng với dáng vẻ truyền thống, đến năm 2005 ngôi đình lại được tu bổ và tồn tại đến nay. Năm 2017, Nhà nước hỗ trợ 200 triệu thực hiện tu bổ cổng đình. Đình xếp hạng cấp tỉnh theo quyết định số 161/QĐ-CT, ngày 8/2/2002
Cấp tỉnhChùa Đạo Sử
Theo các cụ cao niên trong thôn cho biết chùa Đạo Sử có tên chữ là “Vĩnh Long tự” được khởi dựng từ lâu đời trên khu đất đẹp để thờ Phật, tương truyền đây nơi đây là đầu rồng, phía trước có 2 giếng rồng được ví như 2 mắt rồng. Trải qua thời gian và chiến tranh tàn phá ngôi chùa cũ bị phá hủy và phục dựng lại. Năm 1998, nhân dân địa phương xây dựng nhà Mẫu 3 gian và gác chuông. Năm 2004 trùng tu Tam bảo, xây dựng Tam quan của chùa. Năm 2007 tu sửa Nhà tổ. Năm 2014, 2015 tiếp tục tu sửa tháp mộ và xây dựng lại nhà Mẫu như hiện nay. Hiện trạng tòa Tam Bảo ngày nay là kết quả của quá trình trùng tu, tôn tạo năm 2004 của nhân dân địa phương. Chùa xếp hạng cấp tỉnh, quyết định số 858/QĐ-UBND, ngày 15/7/2016.