Đền Ngọc Xá
Nhóm tin tức

Đền Ngọc Xá

✍️ Quản trị📅 22/07/2026👁 19 lượt xem

- Lịch sử hình thành:

Căn cứ vào bản thần tích, các đạo sắc phong, các hiện vật đá và truyền kể của các bô lão trong làng cho biết: Đền Ngọc Xá được khởi dựng từ thời Lê. Thời kỳ kháng chiến chống Pháp, nơi đây là vành đai trắng của địch nên nhiều hạng mục công trình của đền bị phá hủy. Năm 1992, nhân dân địa phương cùng nhau góp công của xây dựng lại đền, năm 2002 xây dựng với quy mô lớn như hiện nay.

Di tích đã được nhà nước xếp hạng cấp tỉnh, Quyết định số 08/UB, ngày 27/01/1995.

- Cảnh quan môi trường, đất đai: 

Đền Ngọc Xá tọa lạc ở vị trí đầu làng Phương Xá với tổng diện tích là 2.506,4 m2, đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đình có mặt chính quay hướng Nam. Phía Tây giáp chùa Phương Thanh, phía Nam giáp quốc lộ 281; phía Đông giáp ủy ban nhân dân xã, phía Bắc giáp khu dân cư.

- Các công trình kiến trúc:

Đền Ngọc Xá có kết cấu kiến trúc hình chữ Đinh (J) gồm 3 gian 2 dĩ Tiền đền và 1 gian Hậu cung, di tích có mặt chính quay theo hướng Nam. Gian giữa tiền đền lắp hệ thống cửa thượng song hạ bản, hai bên xây tường kín. Bộ khung chịu lực bằng gỗ lim truyền thống, kết cấu 4 hàng cột dọc, 4 hàng cột ngang liên kết tạo thành các bộ vì. Bộ vì nóc kết cấu kiểu chồng rường giá chiêng, vì nách kiểu thức kẻ ngồi không có trang trí hoa văn.

- Nhân vật được thờ :

Đền Ngọc Xá thờ Đức Thánh Mẫu Hoàng Thị Đỗ và người con thứ nhất trong 4 người con của bà, có công lao to lớn với dân với nước. Lai lịch và công trạng của các Ngài như sau: Triều vua Cảnh Mục, ở gò đất hình kim ở Ngọc Xá có 1 bọc hình 4 quả trứng. Đến đêm 14 và 15 tháng 8 phát ra tiếng nổ lớn như sấm, sinh ra 4 người hình sắc kỳ dị. Mẹ các Ngài là bà Hoàng Thị Đỗ đặt tên là: Lang, Ải, Linh, Thổ. Được 3 năm, có chiếu triệu về kinh đô, cùng với nhân dân 4 thôn để hộ quốc. Việc yên, trở về quê hương được phong thánh gọi là: Thánh Bào, Long Vân, Thánh Bảo, Hồng Vân. Sau đó, các ông lại giúp vua đánh giặc ở Sơn Tây, Hùng Đoan, Nam Định. Việc yên, các ông trở lại quê hương, dân thôn được miễn tô thuế nhiều năm, yên ổn làm ăn. Sau khi mẹ và các Ngài mất, cả 4 thôn đều lập một nơi công đồng để hương hỏa, được các triều đình ban tặng sắc phong.

- Các tài liệu hiện vật tiêu biểu:

Tên hiện vật

Chất liệu

Thời kỳ/ Niên đại

01 Bia đá tứ diệnĐáThiệu Trị 5 (1845)
02 Lư hương đồngĐồngThời Nguyễn
02 Hoành PhiGỗ sơn thếpThời Nguyễn
01 đôi Câu đốiGỗ sơn thếpThời Nguyễn
01 Mâm bồngGỗ sơn thếpTK. XX
01 Hương ánGỗ sơn thếpTK. XX
01 Khám thờGỗ sơn thếpTK. XX

- Di sản văn hóa phi vật thể gắn liền với di tích:

Hàng năm, cứ đến ngày mồng 3 tháng 2 (âm lịch) lễ hội đền Ngọc Xá lại được tổ chức. Ngày mồng 3, 3 làng thờ 3 người con của Hoàng Thị Đỗ rước về đền Ngọc Xá để làm lễ cúng mẹ, sau đó lại rước trở về làng mình để tế lễ mở hội. Ngày mồng 10, làm lễ dã đám đóng cửa đền.

Lễ hội kéo dài đến hết ngày mồng 10 tháng 2, dân làng chỉ tổ chức chính vào ngày mồng 3 ngày mồng 10. Đoàn rước có đầy đủ cờ, kiệu, lọng, chiêng, trống… rất đông vui náo nhiệt. Song song với các nghi thức tế lễ, tại đền tổ chức các trò chơi dân gian như: bắt vịt, đập niêu, đấu vật, thi đánh cờ vua, bóng chuyền, chọi gà, hát quan họ...

- Công tác bảo vệ, phát huy giá trị di tích: 

Sau khi được nhà nước xếp hạng di tích Đền Ngọc Xá đã thành lập được ban quản lý di tích địa phương theo quy định 242 của UBND tỉnh về sự phân cấp quản lý. Đền Ngọc Xá được xây dựng sau khi hòa bình lặp lại, đặc biệt năm 2002 xây dựng khang trang như ngày nay, từ đó đến nay luôn luôn nhận được sự quan tâm của nhân dân cùng chính quyền địa phương, đền đã xây dựng tường bao bảo vệ tránh sự xâm lấn đất đai. Di tích đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Di tích có một số tồn tại: Đền Ngọc Xá chưa được quy hoạch tổng thể, chưa có hệ thống phòng cháy chữa cháy, camera an ninh, hay người hàng ngày trông coi bảo vệ. Đền chưa có hình thức quảng bá giá trị di tích rộng rãi mà chủ yếu là hình thức loa phát thanh của thôn vào ngày hội

- Đánh giá giá trị di tích:

Giá trị lịch sử, văn hóa: Đền Ngọc Xá là nơi thờ Đức Thánh Mẫu Hoàng Thị Đỗ và người con thứ nhất trong 4 người con của bà, có công lao to lớn với dân với nước. Từ xưa di tích luôn là trung tâm văn hóa lớn có ý nghĩa tâm linh sâu sắc trong đời sống của nhân dân, nơi để nhân dân tôn vinh lòng yêu nước- một truyền thống quý báu của dân tộc. Ngôi đền đối với nhân dân là nơi thể hiện tính cố kết cộng đồng làng xã, những đặc trưng văn hóa riêng biệt của địa phương từ người được thờ, lễ hội truyền thống. Đền hiện còn bảo lưu được nhiều cổ vật thời Nguyễn như: bia đá, hoành phi, câu đối, lư,...mang nhiều ý nghĩa lịch sử, văn hóa.

Giá trị nghệ thuật, kiến trúc, thẩm mỹ: Di tích mặc dù được tôn tạo lại nhưng các hạng mục công trình đều được kết cấu bằng gỗ lim theo lối kiến trúc truyền thống mang giá trị về mặt kiến trúc, nghệ thuật. Đền nằm trên khuôn viên thoáng đãng sạch sẽ đảm bảo nhu cầu về giá trị thẩm mỹ.

- Phân loại di tích: 

Thuộc loại hình di tích lịch sử.