
Đình Đạo Sử
- Lịch sử hình thành
Theo các tài liệu còn lưu giữ tại địa phương cho biết đình làng Đạo Sử được khởi dựng từ thời Lê, trải qua thời gian thiên nhiên và chiến tranh tàn phá ngôi đình đã được trùng tu tôn tạo nhiều lần. Năm 1993 nhân dân thôn Đạo Sử đã tiến hành trùng tu tôn tạo lớn ngôi đình làng với dáng vẻ truyền thống, đến năm 2005 ngôi đình lại được tu bổ và tồn tại đến nay.
Năm 2017, Nhà nước hỗ trợ 200 triệu thực hiện tu bổ cổng đình.
Đình xếp hạng cấp tỉnh theo quyết định số 161/QĐ-CT, ngày 8/2/2002
- Cảnh quan môi trường, đất đai
Đình nằm ở vị trí giữa làng, quay theo hướng Đông Nam. Xung quanh giáp các hộ dân cư. Trước của đình là sân gạch rộng, trước cửa gian hồi đặt các bia đá. Trước cửa đình đặt một lư hương và hai cây đèn đá lớn.
Đình có tổng diện tích đất rộng 1154.7m2, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng và xây tường bao bảo vệ.
- Các công trình kiến trúc
Hiện nay đình Đạo Sử có kiến trúc kiểu chữ Đinh (J) gồm Đại đình 3 gian 2 chái, bộ khung gỗ lim chắc khỏe được liên kết với nhau bởi 4 hàng cột học và 6 hàng cột ngang, vì nóc gian giữa có kiến trúc kiểu giá chiêng, các đầu dư được chạm đầu rồng ngậm ngọc, vì nách chạm kiểu ván mê, chạm kênh bong hình đầu rồng, rồng cuốn mây, cửa mở 3 gian giữa kiểu thượng song hạ bản, trên đỉnh nóc đắp đôi rồng chầu mặt trời.
Hậu cung 1 gian, được lối với gian giữa của tòa đại đình, kiến trúc đơn giản, hai tòa được ngăn cách với nhau bởi bức cửa cấm, phía dưới có trổ cửa nhỏ để ra vào vào Hậu cung, bên trong đặt đồ thờ tự, là nơi tối linh của di tích.
- Nhân vật được thờ
Theo tài liệu ghi chép hiện lưu giữ tại địa phương cho biết đình Đạo Sử thờ thành hoàng làng là tướng Hùng Công - danh tướng thời Lý. Lai lịch công trạng của ngài có thể tóm tắt như sau:
Thời xưa truyền rằng: ở làng Vạn Vân, huyện Đông Thành, phủ Diễn Châu, trấn Sơn Nam có vợ chồng tên là Hoàng Phụng, vợ là Trần Thị Nghiêm làm nghề cày ruộng kiếm sống. Ngoài 20 tuổi, người vợ có thai, khi đủ ngày tháng sinh ra một người con gái mặt mày thanh tú, sắc đẹp như hoa, tính nết dịu dàng, đặt tên là Phương Lương. Đến năm nàng 15 tuổi, cha mẹ mất, nàng làm lễ để tang 3 năm. Nàng thường ra sông làm nghề đánh cá nuôi thân. Đến năm nàng 19 tuổi, nhiều người đến hỏi cưới nàng làm vợ nhưng nàng không thuận. Năm 21 tuổi, một hôm nàng đi chơi ngoài bờ biển thấy một con trâu vàng ở biển chạy lên bãi cát đầm tắm. Lúc sau nàng chạy đến chỗ con trâu đằm tắm rửa chân tay, thấy hai lông đuôi trâu biến thành nước trong ngấm vào trong bụng, được hơn một tháng nàng thấy chuyển động thành thai. Nàng mang thai 12 tháng sinh ra được một bọc, phá ra thành hai người con trai, lúc ấy giờ thìn ngày 16 tháng 2 năm Nhâm Dần. Nàng hổ thẹn mang con bỏ làng ra đi, đến địa phận xã Đạo Sử, huyện Thiện Tài, phủ Thuận An, trấn Kinh Bắc. Trời lúc đó đã xế chiều. Trong làng có ông Nguyễn Gia Trí nhà giầu, vốn người phúc thiện. Thấy mẹ con nàng là người hiền lành bèn hỏi: “Nàng ở đâu đến, sao mẹ con lại ở một mình”. Một lúc lâu nàng thẹn khóc và thưa lại chuyện mình. Ông Trí thấy hai con trai mặt mũi khôi ngô, người tướng võ, người tướng văn. Ông bèn xuất của nhà ra nuôi dưỡng, được 2 năm, hai con vừa tròn 3 tuổi.
Trong làng Dị Sử cùng huyện có người tên là Trần Công Tụy giầu có, muộn con xin về làm con nuôi, rồi đặt tên một người là Hùng Công, một người là Huy Công. Ngày qua tháng lại, hai ông khôn lớn. Sau một thời gian mẹ bị bệnh chết ngày 12 tháng 7. Hai làng Đạo Sử và Dị Sử làm lễ an táng tại đồng Nau làng Đạo Sử. Lớn lên hai ông tự tìm thầy để học. Hùng Công tinh thông võ nghệ, ham mê săn bắn. Huy Công chất khí thông minh, văn chương thông suốt, khí độ hơn đời, thường nuôi trí lớn. Đến năm 20 tuổi, hổ dữ tàn hại dân lành. Lúc đó Hùng Công một mình một đao vào rừng diệt hổ. Từ đó nhân dân tránh được nạn hổ dữ. Mọi người gọi là Linh Tiên quận công. Đến năm 24 tuổi, niên hiệu Càn Phù có giặc Chiêm đem binh mã đến cướp phá. Vua bèn cử Phạm Công Ngọc khí anh hùng, hai ông đã thu mộ anh tài, vũ khí tinh nhuệ, đến trước bản doanh tâu rằng “Nay nước nhà có giặc chiêm xâm lấn, lũ tôi nguyện theo ông đánh giặc , may được nương nhờ lưu tiếng thơm về sau”. Nghe xong ông Ngọc nói rằng “Đạo trời đã định, may gặp các ngươi hẳn trời giáng anh tài giúp nước. Cơ nghiệp nhà Lý ắt thành. Ta coi các ngươi cũng như anh em”. Hai ông cùng quân lính, gia thần của ông Ngọc tiến thẳng đến đồn quân Chiêm quyết đánh một trận lớn. Đang đánh trận, tự nhiên trời đất tối đen, gió mưa sấm chớp ầm ầm, ngày tối như đêm- quân giặc Chiêm hỗn loạn quay giáo đánh lẫn nhau, quân ta chẳng đánh mà giặc tự tan dã.
Sau ngày đất nước bình yên, hai ông trở về quê cũ, mở tiệc ăn mừng, ban thưởng cho binh sỹ. Việc xong hai ông trở về triều yết kiến hoàng thượng. Hoàng thượng phong hai ông là Quận công, rồi sai tướng Hùng Công đi trấn Thanh Hóa, Huy Công đi trấn Hải Dương. Lúc ấy hai ông đi theo đường thủy. Trời tự nhiên mưa to, sóng dạt dào, hai ông đều bị đắm thuyền chết. Lúc ấy vào ngày mùng 2 tháng 10, một lúc sau trời hửng nắng, sóng sông im lặng, nhân dân tại bản xã (tức làng Đồng Xá, phủ Thiện Trường, đạo Sơn Nam) thấy vậy đến xem, thấy hai ông như người còn sống nổi trôi trên mặt nước. Đến đoạn sông gần xã Vạn Nhân, tự nhiên dừng lại thửa ruộng ven sông, sóng bồi cát thành mộ lớn- nhân dân gọi là Mả Thần. Lúc ấy nhân dân hai làng Đạo Sử và Dị Sử nghe tin các ông đã chết bèn làm biểu tâu vua. Vua vô cùng thương tiếc những người tôi trung đã có công với nước liền sai mang sắc chỉ đến hai làng - truyền cho nhân dân xây dựng miếu đường để thờ phụng, lại ban cho làng 31 quan tiền và được miễn binh lương trong 3 năm và được phong tặng mỹ tự Thượng đẳng thần, được hưởng lộc nước lâu dài.
Nhất phong bản cảnh Thành Hoàng phúc tướng Mãnh long đại tướng quân Liêu Quý Công đại vương thượng đẳng thần.
Nhất phong bản cảnh Thành Hoàng phúc tướng, Sát Hải đại tướng quân.
Liêu Quý Công đại vương thượng đẳng thần.
Chuẩn cho hai làng Đạo Sử và Dị Sử, huyện Thiện Tài, phủ Thuận An là cơ sở chính thờ cúng hương lửa không tắt.
Nhất húy tự đệ nhất Hùng Công.
Nhất húy tự đệ nhị Huy Công.
Nhất sinh: 16 tháng 2.
Nhất hóa nhật: 2 tháng 10.
Nhất khánh hạ (mừng công lớn): 14 tháng 8.
- Các hiện vật tiêu biểu
21 bia đá cụ thể như sau:
+ Bia “Hậu thần bi ký” niên đại Tự Đức 3 (1850)
+ Bia “Hậu thần bi ký” niên đại Thành Thái 4 (1892)
+ Bia “Hậu thần bi ký” niên đại Tự Đức 8 (1855)
+ Bia “Hậu thần bi ký” niên đại Gia Long 16 (1817)
+ Bia “Truy tư bi ký” niên đại Tự Đức 17 (1864)
+ Bia (ko có tên) niên đại Tự Đức 2 (1849)
+ Bia “Hậu thần bi ký” niên đại Minh Mệnh 12 (1831)
+ Bia “Hậu thần bi ký” niên đại Minh Mệnh 12 (1831)
+ Bia “Hậu kỵ bi ký” niên đại Tự Đức 10 (1857)
+ Bia “Tư văn bi ký” niên đại Tự Đức 9 (1915)
+ Bia “Hậu thần bi ký” niên đại Thiệu Trị 1 (1841)
+ Bia “Hậu thần bi ký” niên đại Tự Đức 10 (1857)
+ Bia “Hậu phật bi ký” (ko rõ niên đại)
+ Bia “Hậu thần bi” (ko rõ niên đại)
+ Bia “Hậu thần bi ký” thời Nguyễn
+ Bia “Hậu thần bi ký” niên đại Khải Định 8 (1823)
+ 02 Bia (ko rõ tên và niên đại)
+ 03 Bia “Hậu thần bi ký” (ko rõ niên đại)
01 thần tích soạn năm 1572
01 sắc phong, niên đại 1924
05 hoành phi thế kỷ 20
08 câu đối thế kỷ 20
- Di sản văn hóa phi vật thể gắn với di tích
Theo các cụ cao niên trong thôn cho biết lễ hội đình Đạo Sử được tổ chức từ ngày 10 đến ngày 15 tháng 2 âm lịch hàng năm.
Xưa lễ hội được tổ chức theo năm tại đình Thượng chung của 5 thôn (thôn Đạo Sử, Hữu Ái, Phượng Trì, Tam Sơn, Đông Hương) mỗi thôn thờ một ông là những danh tướng thời Lý. Ở đình chung của 5 thôn thờ tướng Phạm Ngọc nhân dân gọi nôm là đức thánh Cả. Sau này đình chung bị phá hủy, nhân dân 5 thôn rước ngài về thờ ở đình làng Phượng Trì.
Lễ hội đình Đạo Sử ngày nay vẫn được tổ chức hàng năm, nhưng 5 năm mới tổ chức rước 1 lần.
Từ ngày mồng 10 tháng 2 các cụ tổ chức tế mở cửa đình, bao sái đồ thờ tự, phong cờ quạt, vệ sinh đường làng ngõ xóm phong quang sạch đẹp.
Ngày 11 các cụ tổ chức đội tế rước sang làng Phượng Trì tế lễ và xin rước Thánh Cả về làng mình để tổ chức lễ hội. Đám rước bao gồm có đầy đủ cờ, kiệu, tàn lọng, siêu đao bát bửu, trống chiêng, phường bát âm, sinh tiền cùng đông đảo nhân dân tham dự rất đông vui, náo nhiệt. Trang phục của đội tế gồm quan viên mặc quần, áo mầu xanh, chủ tế mặc áo đỏ, chân đi hia, đầu đội mũ cánh chuồn. Mâm lễ gồm có thủ lợn chín, mâm xôi, hoa quả, trầu, rượu, kim ngân….
Các ngày tiếp theo các cụ, nhân dân địa phương đón khách thập phương và tế lễ, dâng hương tại đình làng.
Song song với phần lễ là phần hội với nhiều tục trò dân gian như thi đấu vật, hát chèo, hát quan họ, bắt vịt, đập niêu…. thu hút đông đảo nhân địa phương tham dự vào những sinh hoạt văn hóa, văn nghệ vui tươi lành mạnh, mang đậm bản sắc dân tộc.
Sáng 15 các cụ và nhân dân trong thôn tổ chức tế dã đám và rước Thánh Cả về đình Phượng Trì, kết thúc lễ hội năm đó.
- Công tác bảo vệ, phát huy giá trị di tích
Đình từ xưa tới nay vẫn được nhân dân quan tâm bảo vệ gìn giữ. Di tích đã thành lập Ban Quản lý di tích theo quy định. Địa phương cử ra Ban khánh tiết gồm 5 người trực tiếp phụ trách các công việc liên quan đến di tích. Hàng ngày đền có 2 cụ từ trông coi, giữ gìn vệ sinh môi trường cảnh quan sạch đẹp, phong quang. Các hoạt động văn hóa được chính quyền và nhân dân tổ chức tốt. Đất đai của di tích được xây tường bao bảo vệ, các cổ vật, hiện vật được bảo vệ tốt.
Tuy nhiên, di tích thiếu hệ thống an ninh giám sát, phòng cháy chữa cháy. Cần sớm thực hiện xây dựng nhà bảo quản bia đá tránh hư hại.
- Đánh giá giá trị di tích
Đình Đạo Sử là công trình tín ngưỡng tiêu biểu của nhân dân địa phương. Nơi tôn vinh thờ tự danh tướng có nhiều công lao với nhân dân đất nước. Dưới mái đình làng suốt bao thế hệ là nơi duy trì và bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống của địa phương.
Các cổ vật ở đình đặc biệt là hệ thống bia đá, thần tích, sắc phong có giá trị lớn về tư liệu và lịch sử, là những nguồn tư liệu quý để tham khảo về lịch sử di tích và địa phương cũng như mang những giá trị lớn về nghệ thuật thẩm mỹ.
- Phân loại di tích
Loại hình lịch sử.