Đền thờ Tô Hiến Thành
Nhóm tin tức

Đền thờ Tô Hiến Thành

✍️ Quản trị📅 22/07/2026👁 46 lượt xem

- Lịch sử hình thành

Theo các cụ cao niên trong thôn cho biết, đền thờ Tô Hiến Thành được khởi dựng từ lâu đời, trải qua thăng trầm lịch sử đền đã bị phá hủy hoàn toàn trong kháng chiến chống thực dân Pháp. Năm 1999 nhân dân địa phương xây dựng 3 gian Hậu cung (vẫn gọi là đền) trên đất của đình xưa để làm nơi thờ phụng. Năm 2005, tu bổ tôn tạo tòa Tiền tế.

Năm 2017, di tích được nhà nước hỗ trợ 300 triệu tu bổ toàn Tiền tế.

Đền được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh, quyết định số 166/CT-QĐ/UBND ngày  24.02.1998

- Cảnh quan môi trường, đất đai

Ngôi đền hiện nay ở rìa làng, được nhân dân tu sửa trong những năm gần đây gồm các công trình cổng Tam môn, sân, hai bên dải vũ, Đại đình, Hậu cung, xung quanh là vườn cây và tường bao bảo vệ. Đền thờ Tô Hiến Thành quay hướng Tây. Đất đai của di tích có tổng diện tích khá lớn 7291.4m2, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng.

- Các công trình kiến trúc

Đền có kết cấu kiến trúc chữ Nhị, gồm 2 tòa Tiền tế và Hậu cung.

Tòa Tiền tế gồm 3 gian, 2 trái, bộ khung được làm bằng chất liệu bê tông, vì nóc bằng gỗ, kiến trúc kiểu cột trụ con chồng giá chiêng, mở cửa 3 gian phía trước kiểu thượng song hạ bản, 2 cửa phía sau lắp cửa ván bưng đi thông xuống hậu cung, mái lợp ngói ta, hai bên hồi trước xây hai cột đồng trụ.

Tòa Hậu cung gồm 3 gian, bộ khung bằng gỗ, kết cấu kiến trúc kiểu cột trụ, con chồng giá chiêng, kẻ truyền, tường hai hồi được xây kín, hệ thống cửa ván bưng, mái lợp ngói ta, trên đỉnh nóc đắp rồng chầu mặt trời.

- Nhân vật được thờ

Theo các cụ trong thôn cho biết đền thờ Tô Hiến Thành và phối thờ các vị danh nhân khác của quê hương, đất nước cụ thể: 

+ Tô Hiến Thành đại vương

+ Nguyễn Tiến Lương (đậu Hoàng giáp năm 1472)

+ Nguyễn Bạt Tụy (2 lần đỗ tiến sĩ năm 1508,1511)

+ Ông Hộ quốc.

Căn cứ vào các tài liệu, bia đá tại địa phương có thể tóm tắt lai lịch, công trạng của Tô Hiến Thành đại vương như sau:

 “Tô đại vương – tức Tô Hiến Thành là một vị quan đại thần triều Lý có tài, có đức. Tài năng, trí đức của Ông đã góp công lớn trong việc kinh bang đất nước. Đặc biệt là trên lĩnh vực xây dựng, củng cố chính quyền, chống tham nhũng hối lộ. Chính vì vậy, cuộc đời sự nghiệp của Tô đại vương đã được các sử gia biên chép, ca ngợi, các triều vua tôn phong ban sắc và nhân dân nhiều nơi thôn thờ làm thành hoàng làng, thể hiện lòng biết ơn, tưởng nhớ công lao to lớn của Ngài trong việc tiểu trừ nạn tham nhũng, hối lộ, xây dựng và bảo vệ đất nước.

Nguyễn Tiến Lương: Người xã Phá Lãng, huyện Thiện Tài (nay thuộc thôn Bùi, thị trấn Thứa). Ông đỗ Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) tên đứng thứ 3 khoa thi Nhâm Thìn, niên hiệu Hồng Đức 3 (1472) đời Lê Thánh Tông. Ông làm quan đến chức Tham chính.

Nguyễn Bạt Tụy (1485 - 1550): Sinh năm Ất Tỵ, người xã Phá Lãng, huyện Thiện Tài (nay thuộc thôn Bùi, thị trấn Thứa). Năm 24 tuổi đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân (tên đứng thứ 6) khoa thi Mậu Thìn, niên hiệu Đoan Khánh 4 (1508) đời Lê Uy Mục. Nhưng ý nguyện của ông phải đỗ Tam khôi, nên từ chối không nhận. 

Đến khoa thi Tân Mùi, niện hiệu Hồng Thuận 3 (1511) đời Lê Tương Dực, ông lại ứng thí vẫn đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân (tên đứng thứ 18). Ông hai lần được cử đi sứ sang nhà Minh. Làm quan nhà Mạc đến chức Thượng thư, Thái bảo, Thiếu sư, tước Lương Quận công, về trí sỹ được xếp vào hạng Đồng đức công thần. Sau khi ông mất, dân làng thờ làm Thành hoàng. Các đời vua đều ban sắc phong.  

- Các hiện vật tiêu biểu

01 bia đá “ Thạch kiều bi ký”, niên đại  1870

01 bia đá “ Tu tạo hậu hiền bi ký”, niên đại 1850

06 ngai và bài vị thờ thế kỷ 21

01 long đình thời Nguyễn

03 hoành phi thời Nguyễn

- Di sản văn hóa phi vật thể gắn với di tích

Theo các cụ cao niên trong thôn cho biết xưa lễ hội được diễn ra từ ngày mồng 10 đến ngày 15 tháng 2 âm lịch hàng năm, ngày 12 tháng 2 là ngày chính hội.

Từ ngày mồng 10 nhân dân trong thôn phong quang cờ quạt, bao sái đồ thờ tự, tổ chức dọn dẹp đường làng, ngõ xóm.

Ngày 11 tổ chức rước văn từ nghè về đền

Ngày 12 các giáp tổ chức rước ông đám (rước ông ỉ từ nhà ông quan đám ra đền để làm lễ tế) đi trước đám rước là mâm lễ oản, chuối.

Ngay từ đầu năm, dân làng đã tổ chức họp bàn và giao cho các giáp lo việc tổ chức lễ hội, sửa sang lễ vật cho làng. Ông quan đám được bầu chọn là người trong thôn, trong năm đó gia đình không có bụi để nuôi lợn tế. Lợn tế phải là lợn đực và mầu đen. Khi đến hội, trước khi rước ông ỉ ra tế phải được quan viên trong làng “khám” kiểm tra xem có đạt tiêu chuẩn làng đã đề ra không.

Ngày 13 hội đồng kỳ mục tổ chức rước chạ và cỗ chạ

Ngày 14 rước hội quan viên có lễ vật là oản, chuối

Ngày 15 dân làng tổ chức làm lễ tạ và kết thúc lễ hội.

Ngoài phần lễ còn có phần hội gồm các trò chơi dân gian như: đu quay, vật, đánh cờ, bắt phỗng, hát trống quân… 

Ngày nay, lễ hội thôn Bùi được tổ chức theo nếp sống mới, đơn giản và rút ngắn thời gian hơn. Lễ hội được tổ chức vào ngày 12 tháng 2 âm lịch hàng năm. Phần lễ cũng được tổ chức đơn giản hơn.

- Công tác bảo vệ, phát huy giá trị di tích

Đền vẫn được người dân chăm sóc bảo vệ. Ngoài việc thành lập Ban quản lý di tích địa phương theo quy đinh. Hàng ngày, Ban khánh tiết gồm 5 cụ trực tiếp phụ trách việc quản lý, chăm sóc di tích, vệ sinh môi trường cảnh quan hàng ngày. Năm 2017, di tích được nhà nươc hỗ trợ 300 triệu tu bổ tôn tạo tòa Tiền tế. Việc thờ tự đức Thánh được người dân thực hiện tốt trong sự tôn nghiêm. 

Tuy nhiên, hiện nay di tích bị xuống cấp tòa Hậu cung. Toàn bộ cos nền thấp so với sân cần được tu bổ tôn tạo chống xuống cấp.

- Đánh giá giá trị di tích

Ngôi đền là trung tâm sinh hoạt văn hóa tinh thần của nhân dân suốt nhiều thế hệ. Đây là nơi giáo dục truyền thống văn hóa tốt đẹp, nuôi dưỡng đời sống tinh thần, gìn giữ những thuần phong mỹ tục của cha ông. Từ đó góp phần làm giầu truyền thống lịch sử quê hương. Các cổ vật, hiện vật lưu giữ tại đình có giá trị về tư liệu và lịch sử. Đền là nơi tôn vinh tưởng niệm một danh nhân tiêu biểu của đất nước thể hiện truyền thống văn hóa, đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc ta.

- Phân loại di tích

Loại hình di tích lịch sử.