Đình Lạng Khê
Nhóm tin tức

Đình Lạng Khê

✍️ Quản trị📅 22/07/2026👁 24 lượt xem

- Lịch sử hình thành

Căn cứ vào kết quả khảo sát tại địa phương, đình Lạng Khê vốn được khởi dựng vào thời Nguyễn (thế kỷ XIX), trên khu đất ở phía Đông Bắc của làng. Theo các cụ cao niên trong làng cho biết thì trước kia Lạng Khê có 2 đình: đình Trong và đình Ngoài. Đình Ngoài nằm gần khu vực chùa nhưng trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp năm 1948, thực hiện chủ trương tiêu thổ kháng chiến đình đã bị đốt phá hoàn toàn. Đình Trong (tức đình Lạng Khê hiện nay) trở thành cơ sở cách mạng và trạm cứu thương của bộ đội. Sau khi hòa bình lập lại, đình trở thành nhà văn hóa bình dân học vụ, hậu cung đình là kho chứa thóc của hợp tác xã. Từ năm 1971, đình Lạng Khê lại là nơi sơ tán của trường Đảng huyện Gia Lương cho đến năm 1979.

Đình xưa có quy mô to lớn gồm 5 gian Đại đình, 2 gian Hậu cung, kiến trúc hình chữ Đinh, bộ khung gỗ lim chắc khỏe, nghệ thuật trang trí chạm khắc tinh xảo. Ở giữa là lòng giếng, hai bên lắp hệ thống sàn gỗ. Hiện đình còn bảo lưu được một số chân tảng và một hàng bậc tam cấp bằng đá xanh là dấu tích gốc của ngôi đình trong lịch sử. Trải thăng trầm lịch sử, ngôi đình đã bị hủy hoại và xuống cấp nặng nề. Năm 2008, với truyền thống hướng về cội nguồn, nhân dân địa phương đã góp công, góp của xây dựng lại ngôi đình với dáng vẻ truyền thống trên nền đất xưa cũ để tôn thờ thành hoàng.

Đình đã xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh, quyết định số 1160/QĐ-UBND ngày 30/8/2012.

- Cảnh quan môi trường, đất đai

Đình Lạng Khê hiện tọa lạc trên khu đất đẹp ở giữa làng, hướng Đông Bắc. Trước mặt đình là ao đình và cánh đồng lúa bát ngát Đất đai chùa có diện tích 1170m2, đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng.

- Các công trình kiến trúc

Công trình kiến trúc chính là tòa Đại đình hình chữ Đinh gồm Tiền đình và Hậu cung.

Tiền đình có kiến trúc 5 gian 2 chái, 4 mái đao cong mềm mại, bờ nóc đắp đôi rồng chầu mặt trời, mái lợp ngói ta, cửa mở ở 5 gian giữa kiểu bức bàn “thượng song hạ bản”, hai bên gian trổ cửa hình chữ Thọ tròn. Ngôi đình được thiết kế theo kiểu dáng xưa, lòng thuyền, tứ trụ, tiền kẻ hậu bẩy, hiện trạng đình còn giữ được một số cấu kiện kiến trúc bằng gỗ như: dui, hoành, một số cột cái... là dấu ấn của ngôi đình trong lịch sử. Kết cấu vì nóc làm theo kiểu giá chiêng, vì nách giá chiêng chồng rường. Trên các bộ phận kiến trúc như đầu dư, con rường đều được chạm khắc hình Rồng mây và hoa lá cách điệu mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn. 

Nối liền với gian giữa của Tiền đình là Hậu cung. Hậu cung gồm 2 gian, ngăn cách giữa 2 tòa là bức cửa cấm làm bằng gỗ, mở cửa ngách ở hai bên, tường xây kín hai hồi và hậu cung, bộ khung chủ yếu được bào trơn đóng bén, quá giang gác tường.

- Nhân vật được thờ

Đình Lạng Khê là công trình văn hóa tín ngưỡng được xây dựng từ lâu đời để tôn thờ thành hoàng làng là Đức Quý Minh Đại vương, người đã có công giết giặc cứu dân dưới thời Hùng Triều thứ 18 và bốn vị thiên thần giúp việc là Lôi Công, Hắc Sát, Tá tướng và Lỗ Lịch.

Về đức Quý Minh đại vương lai lịch công trạng như sau:

Đời vua Hùng (Duệ Vương) có 2 người con gái tên là Tiên Dung công chúa và Mị Nương công chúa. Người thứ nhất gả cho Chử Đồng Tử quê ở Đạo Sơn Nam, phủ Khoái Châu, huyện Đông An, xã Đa Hòa.Còn cô em là Mị Nương công chúa. Vua không có con trai bèn kén rể cầu hiền. Lúc ấy có 2 người là Tản Viên Sơn Thánh và Thủy Thần Đông Cung cùng đến xin ra mắt. Vua bèn hứa nếu ai đem lễ vật cầu hôn đến trước thì sẽ gả con gái cho. Sáng hôm sau Sơn Thánh đến trước và được nhà vua gả Mị Nương cho. Thủy Tinh đến muộn thấy việc đã xong bèn nổi giận làm mưu to gió lớn, dâng nước lên để đánh Sơn Thánh nhưng nước dâng tới đâu thì Sơn Thánh lại làm núi cao đến đấy. Vua phục tài đức của Sơn Thánh mà nhường ngôi cho.Lúc ấy Thục Chúa là con vua nước Ai Lao nghe tin vua nhường ngôi cho Sơn Thánh bèn đem quân đến đánh. Sơn Thánh chiêu tập binh mã và các tướng tài để chuẩn bị đánh giặc. Đưa em là Nghi Lĩnh Hầu làm tướng tiên phong. Quân Thục thua chạy Sơn Thánh dâng sớ tâu vua. Vua cho Sơn Thánh đem quân về bái tạ và phong cho Nhạc phủ kiêm Thượng đẳng thần. Phong cho em Nghi Lĩnh Hầu là Quý Minh đại vương. Phong cho Tả Hữu Kiên Thần đô hộ đại vương là Cao Sơn đại vương. Hai năm sau quân Thục lại chiêu tập binh mã sang đánh. Sơn Thánh cùng em là Nghi Lĩnh Hầu từ Lăng Xương động đem quân đánh Thục ở Lạng Sơn nhân dân các nơi nô nức xin theo đánh giặc, quân giặc thua chạy nhưng Nghi Lĩnh Hầu (Quý Minh) không may bị trúng tên bị thương. Quân ta thắng trận trở về, đến xứ Kinh Bắc, Từ Sơn phủ, An Phong huyện, Nội Trà xã nhân dân đem lễ ra đón mừng. Nghi Lĩnh Hầu Quý Minh thấy ở địa phận Phú Mẫn có một khu gò có ao sâu, và một con rồng uốn khúc, ông đi đến và hóa vào ngày 10/4. Sau đó là mưa gió sấm chớp nổi lên, chỗ ông hóa biến thành một ngôi mộ lớn. Nhân dân xin được lập đền thờ ông và làm lễ tế phong ông làm Quý Minh đại vương Thượng đẳng thần.Khi nhà Hồ cướp ngôi vua, ở đất Lam Sơn Lê Lợi nổi dậy khởi nghĩa. Đạo quân của ông đi qua đình thờ Quý Minh, ông vào cầu xin âm phù đánh giặc. Sau khi đánh thắng giặc vua Lê Thái Tổ tặng phong: “Quý Minh hiển ứng đại vương”.Khi họ Mạc cướp ngôi nhà Lê, vua Lê Trang Tôn được thần âm phù diệt Mạc lại phong mỹ tự “Quý Minh uy linh chiêm cảm đại vương”.

 - Các hiện vật tiêu biểu

01 thần tích soạn năm1572, sao lại năm 1740

07 đạo sắc phong vào các năm: Tự Đức 8 (1855), Tự Đức 33 (1880), Đồng Khánh 2 (1887), Duy Tân 3 (1909), Duy Tân 5 (1911), Khải Định 2 (1917), Khải Định 9 (1924)

02 ngai bài vị TK XX

01 long đình TK XX

01 giá văn TK XX

01 kiếm thờ TK XX 

01 sập thờ TK XX

01 đỉnh hương TK XX

01 lư hương TK XX

03 đài nước TK XX

02 chân nến TK XX

02 mâm bồng TK XX

 

- Di sản văn hóa phi vật thể gắn với di tích

Hàng năm hội lệ đình Lạng Khê được tỏ chức vào ngày 10 đến ngày 12 tháng 02 âm lịch. Xưa để tổ chức lễ hội từ trong năm làng đã họp bàn để phân công nhiệm vụ cho từng giáp, mỗi giáp phải đảm nhận việc nuôi lợn tế thánh và các công việc tế lễ chung của làng. Vào hội, ngay từ ngày mùng 9 làm lễ mở cửa đình, bao sái ngai, bài vị thành hoàng và các đồ thờ tự, phong cờ quạt cũng như dọn dẹp vệ sinh thôn xóm. Sáng ngày mùng 10, làng tổ chức rước kiệu Thánh từ đình Trong vào đình Ngoài, sau đó tổ chức tế lễ tại đình Ngoài. Đám rước bao giờ cũng có đầy đủ cờ, kiệu, tàn lọng, siêu đao bát bửu, chiêng trống cùng nhân dân tham dự rất đông vui, náo nhiệt. Ngày 12 chính hội, ngay từ sáng sớm, ông Đám cùng 2 giáp khiêng ông lợn ra sân đình để các cụ quan viên kiểm tra lợn tế. Lợn tế thánh phải có 1 mầu đen tuyền, được nuôi và chăm sóc hết sức cẩn thận, thường xuyên được tắm rửa sạch sẽ. Sau khi kiểm tra, nếu đạt tiêu chuẩn, làng sẽ tổ chức thịt lợn và tế thủ tại đình, sau đó chia phần cho các giáp. Đến chiều ngày 12, kiệu Thánh được rước từ đình Ngoài về đình Trong để an vị. 

Trong những ngày hội, song song với phần lễ là phần hội với nhiều trò chơi dân gian như: đấu vật, chọi gà, bắt vịt, bịt mắt bắt dê, buổi tối có ca trù, có hát tuồng,... đã thu hút đông đảo nhân dân tham gia trảy hội.

Trong năm, đình Lạng Khê còn có các sự lệ như:

Ngày 1,2,3 tháng Giêng: Lễ Xuân Kỳ.

Ngày mùng 7 tháng Giêng; Lễ Khai Hạ.

Ngày 12 tháng Giêng: Lễ Sinh nhật Thánh.

Ngày 10,11,12 tháng 02: Làm lễ vào đám.

Ngày 15 tháng 8: Làm lễ trung thu và Thường tân.

Ngày 10 tháng 11: Lễ hóa nhật của Đức Thánh.

Ngày mùng 2 tháng Chạp: Làm lễ Địa Lạp.

Ngày 23 tháng Chạp: Làm lễ Triều Thiên.

Ngoài ra, vào ngày mùng một hàng tháng, các cụ hương lão trong làng đều ra đình làm lễ Thánh.

- Công tác bảo vệ, phát huy giá trị di tích

Đình Lạng Khê luôn được chính quyền và nhân dân bảo vệ, gìn giữ. Di tích đã xếp hạng nên đã thành lập ban quản lý di tích địa phương tuy nhiên hoạt động còn chưa hiệu quả, chưa được kiện toàn thường xuyên. Việc quản lý di tích chủ yếu được nhân dân giao cho Ban khánh tiết gồm 5 người trong đó cử ra cụ Từ hàng ngày trực tiếp mở cửa đình, chăm sóc đèn nhang, vệ sinh cảnh quan môi trường của di tích.

Lễ hội và các hoạt động văn hóa được chính quyền và nhân dân địa phương tổ chức tốt.

Đất đai của di tích được xây tường bao làm danh giới bảo vệ.

- Đánh giá giá trị di tích

Đình Lạng Khê là công trình tín ngưỡng tiêu biểu của nhân dân địa phương. Di tích có giá trị về nhiều mặt: lịch sử, văn hóa, nghệ thuật, thẩm mỹ. Các cổ vật của di tích góp phần cung cấp thông tin quý giá về lịch sử di tích và địa phương. Các công trình kiến trúc, đồ thờ tự chứa đựng giá trị nghệ thuật trong kiến trúc và tạo tác đồ thờ. Các hoạt động văn hóa đã làm giàu thêm đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân địa phương, xây dựng mối đoàn kết cộng đồng dân cư.

- Phân loại di tích

Di tích thuộc loại hình lịch sử